CÓ DI CHÚC THÌ CÓ ĐƯỢC NHẬN HẾT ĐẤT? SỰ THẬT PHÁP LUẬT

 

CÓ DI CHÚC THÌ CÓ ĐƯỢC NHẬN HẾT ĐẤT? SỰ THẬT PHÁP LUẬT

 

 

Đây là trường hợp rất nhiều gia đình gặp phải và cũng là nguyên nhân của không ít tranh chấp.

Nhiều người nghĩ rằng: “Cha tôi đã viết di chúc để lại đất cho em tôi, vậy thì mọi chuyện đã rõ, cứ theo di chúc mà chia”.

Nhưng về mặt pháp lý, cách hiểu như vậy vẫn chưa đầy đủ.

Khi có di chúc, chúng ta phải kiểm tra ít nhất bốn vấn đề quan trọng.

Thứ nhất, người lập di chúc có thực sự có quyền định đoạt tài sản đó hay không?

Đây là điểm phải kiểm tra đầu tiên.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người, thậm chí có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo quy định pháp luật.

Nhưng cần hiểu rất rõ chữ “tài sản của mình”.

Một người chỉ có thể định đoạt bằng di chúc đối với phần tài sản thuộc quyền của mình.

Ví dụ, cha và mẹ có một thửa đất 2.000m² là tài sản chung. Người cha lập di chúc ghi rằng: “Sau khi tôi chết, tôi để lại toàn bộ thửa đất 2.000m² cho người con cả”.

Không nên vội kết luận rằng người con cả sẽ đương nhiên được nhận toàn bộ 2.000m².

Tại sao?

Bởi người cha chỉ có thể định đoạt phần quyền tài sản thuộc về mình. Nếu một phần quyền đối với thửa đất thuộc về người mẹ thì người cha không thể dùng di chúc của mình để định đoạt luôn phần tài sản thuộc quyền của người mẹ.

Nói một cách dễ hiểu:

Di chúc chỉ có thể định đoạt di sản của người lập di chúc, chứ không thể biến tài sản của người khác thành tài sản của mình.

Vì vậy, trước khi đọc nội dung di chúc, phải xác định nguồn gốc và quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản.

Thứ hai, phải kiểm tra di chúc có hợp pháp hay không.

Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng.

Bộ luật Dân sự quy định điều kiện để di chúc hợp pháp. Về cơ bản, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hình thức di chúc phải phù hợp với quy định pháp luật.

Điều này có nghĩa là không phải cứ có một tờ giấy ghi chữ “di chúc” thì đương nhiên đó là một di chúc hợp pháp.

Ví dụ, một người cao tuổi đang trong tình trạng không minh mẫn, bị người khác ép buộc ký vào giấy để lại toàn bộ đất cho một người con.

Hoặc người lập di chúc bị lừa dối về nội dung văn bản.

Hoặc nội dung di chúc định đoạt một tài sản mà thực tế người lập di chúc không có quyền định đoạt.

Trong những trường hợp như vậy, khi phát sinh tranh chấp, tính hợp pháp của di chúc hoàn toàn có thể trở thành vấn đề cần được xem xét.

Một điểm khác mà người dân thường hiểu nhầm là di chúc không công chứng thì chắc chắn vô hiệu.

Không phải lúc nào cũng như vậy.

Bộ luật Dân sự quy định di chúc bằng văn bản có nhiều hình thức, bao gồm di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, có người làm chứng, có công chứng hoặc có chứng thực. Vì vậy, việc một di chúc không được công chứng, chứng thực không đồng nghĩa với việc di chúc đó mặc nhiên vô hiệu; phải xem hình thức cụ thể và các điều kiện hợp pháp của di chúc.

Đây là điểm người dân cần đặc biệt lưu ý.

Thứ ba, phải xem chính xác nội dung di chúc định đoạt như thế nào.

Có những trường hợp cha mẹ không để lại toàn bộ tài sản cho một người mà chia thành nhiều phần.

Ví dụ người cha có quyền đối với một phần thửa đất và lập di chúc: người con thứ nhất được hưởng một nửa, người con thứ hai được hưởng một nửa.

Có trường hợp người lập di chúc chỉ để lại một phần tài sản cho một người con.

Cũng có trường hợp người lập di chúc ghi rất cụ thể diện tích, vị trí, tài sản gắn liền với đất hoặc phần quyền mà từng người được hưởng.

Vì vậy, khi đọc di chúc phải đọc toàn bộ nội dung, không nên chỉ nhìn vào một câu rồi kết luận.

Đặc biệt, nếu trong di chúc có nhiều nội dung khác nhau thì phải xác định phần nào liên quan đến di sản, phần nào liên quan đến nghĩa vụ, phần nào liên quan đến việc phân chia tài sản.

Bộ luật Dân sự cũng quy định di chúc có thể không có hiệu lực toàn bộ hoặc chỉ mất hiệu lực đối với một phần trong những trường hợp nhất định. Nếu di chúc có một phần không hợp pháp nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại thì phần không hợp pháp có thể không có hiệu lực, còn các phần hợp pháp khác vẫn có thể được thực hiện. Nếu một người để lại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì bản di chúc sau cùng có hiệu lực theo quy định.

Điều này rất quan trọng bởi trong thực tế có thể xảy ra trường hợp cha mẹ lập nhiều bản di chúc ở các thời điểm khác nhau.

Lúc đó không thể đơn giản lấy bản di chúc mà một người đang giữ rồi khẳng định đó là bản cuối cùng.

Phải xác định bản di chúc nào được lập sau cùng và bản đó có đáp ứng điều kiện có hiệu lực hay không.

Thứ tư, và đây là vấn đề rất nhiều người không biết, đó là có những người vẫn được hưởng di sản mặc dù trong di chúc không cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn mức luật định.

Đây chính là quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.

Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong những điều kiện luật định, một số người vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu họ không được người lập di chúc cho hưởng hoặc được cho hưởng ít hơn mức này.

Nhóm này gồm: con chưa thành niên; cha, mẹ; vợ hoặc chồng; và con thành niên mà không có khả năng lao động. Quy định này không áp dụng trong một số trường hợp, chẳng hạn người đó từ chối nhận di sản hoặc là người không có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật.

Ví dụ để cô chú, anh chị dễ hình dung.

Một người cha có ba người con và lập di chúc để lại toàn bộ phần di sản của mình cho người con cả.

Nếu chỉ nhìn vào di chúc thì có thể nghĩ rằng người con cả sẽ nhận toàn bộ.

Nhưng nếu người cha còn có vợ hoặc cha, mẹ thuộc trường hợp được pháp luật bảo vệ theo Điều 644, thì phải tiếp tục xem xét quyền của những người này.

Không thể chỉ nói rằng:

“Cha đã viết di chúc rồi thì ai được ghi tên trong di chúc sẽ hưởng hết.”

Cũng không thể nói ngược lại:

“Tôi là con thì đương nhiên phải được chia đều.”

Cả hai cách nói này đều có thể quá đơn giản so với quy định pháp luật.

Phải xem từng trường hợp cụ thể.

Một vấn đề nữa cũng rất quan trọng là thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực.

Di chúc không phải cứ viết ra là ngay lập tức chuyển quyền tài sản cho người được chỉ định.

Theo Bộ luật Dân sự, di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức gắn với thời điểm người có tài sản chết.

Do đó, khi cha mẹ còn sống, người con được ghi tên trong di chúc cũng không thể lấy lý do “tôi đã được cha mẹ cho thừa kế” để tự ý bán tài sản đó nếu cha mẹ vẫn đang là người có quyền đối với tài sản.

Đây là điểm rất nhiều người nhầm lẫn.

Di chúc không phải là hợp đồng mua bán đất.

Di chúc thể hiện ý chí định đoạt tài sản sau khi người lập di chúc chết và chỉ phát sinh hiệu lực thừa kế theo quy định pháp luật.

Vì vậy, nếu cha mẹ còn sống và vẫn có đầy đủ quyền đối với tài sản thì việc người con được ghi trong di chúc không đồng nghĩa với việc người con đã trở thành chủ sử dụng đất để tự mình đem đất đi bán.

Bây giờ chúng ta thử đặt ra một tình huống cụ thể.

Cha có một phần quyền đối với thửa đất 2.000m².

Cha lập di chúc để lại toàn bộ phần tài sản của mình cho người con thứ nhất.

Sau khi cha mất, người con thứ nhất nói:

“Cha đã cho tôi toàn bộ đất, những người con khác không có quyền gì nữa.”

Có thể kết luận ngay như vậy hay không?

Chưa thể.

Phải kiểm tra ít nhất các vấn đề:

Thửa đất 2.000m² là tài sản riêng của cha hay tài sản chung?

Cha thực sự có quyền đối với bao nhiêu phần?

Di chúc có hợp pháp không?

Di chúc có phải là bản di chúc cuối cùng hay không?

Nội dung di chúc có xác định rõ phần tài sản được định đoạt hay không?

Có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay không?

Có nghĩa vụ tài sản nào của người chết cần được giải quyết trước khi chia di sản hay không?

Và cuối cùng, sau khi xác định được người hưởng di sản thì thủ tục đăng ký biến động, phân chia hoặc thực hiện các quyền đối với quyền sử dụng đất phải được thực hiện theo quy định pháp luật về đất đai.

Như vậy, khi gia đình có di chúc, đừng chỉ hỏi “di chúc cho ai?”

Mà phải hỏi đầy đủ:

Di chúc có hợp pháp không?

Người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản đó không?

Di chúc định đoạt phần tài sản nào?

Có nhiều bản di chúc hay không?

Có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay không?

Và đặc biệt:

Tài sản được ghi trong di chúc có thực sự là toàn bộ tài sản thuộc quyền của người lập di chúc hay chỉ là một phần trong khối tài sản chung?

Đó mới là cách tiếp cận đúng khi giải quyết một vụ việc thừa kế đất đai.

Qua những phân tích này, có thể thấy rằng một tờ di chúc chỉ là một phần của câu chuyện thừa kế. Muốn xác định cuối cùng ai có quyền đối với thửa đất, phải kết hợp giữa nguồn gốc tài sản, quyền của người chết, tính hợp pháp của di chúc, người thừa kế và các quy định của pháp luật về thừa kế cũng như đất đai.

Đặc biệt, nếu gia đình đang có tranh chấp hoặc chuẩn bị làm thủ tục phân chia đất thừa kế, không nên tự ý mua bán, chuyển nhượng hoặc ký giấy tờ chỉ dựa vào lời nói của một thành viên trong gia đình.

Hãy kiểm tra hồ sơ thật kỹ, xác định đúng quyền của từng người trước khi thực hiện giao dịch.

Quý cô chú, anh chị hãy nhớ một câu rất đơn giản:

“Có di chúc chưa đủ – phải xem di chúc có hợp pháp, có đúng tài sản và có đúng người được hưởng hay không.”

Đây chính là chìa khóa để hạn chế tranh chấp đất đai trong gia đình.

Xem video : Tại đây

Về chúng tôi

Chuyên cung cấp dịch vụ đo đạc địa chính, lập hồ sơ cấp sổ đỏ, cắm mốc ranh giới thửa đất, tách thửa, hợp thửa, chuyển mục đích sử dụng đất, trích lục bản đồ, bản vẽ hiện trạng… đảm bảo chính xác – nhanh chóng – đúng pháp luật.

Với đội ngũ kỹ sư địa chính nhiều năm kinh nghiệm cùng trang thiết bị đo đạc hiện đại, chúng tôi cam kết mang đến giải pháp tối ưu cho mọi nhu cầu về đất đai của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước.

Dịch vụ nổi bật:

  • Đo đạc, lập bản đồ địa chính,bản đồ địa hình, bản vẽ hiện trạng vị trí phục vụ cấp sổ đỏ

  • Cắm mốc ranh giới thửa đất, xác định vị trí mốc giới đúng thực địa

  • Tư vấn và thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ)

  • Hỗ trợ tách thửa, hợp thửa, chuyển mục đích sử dụng đất

  • Trích đo, trích lục bản đồ địa chính, hồ sơ kỹ thuật thửa đất

  • Các vấn đề liên quan đến đo đạc đất đai, khảo sát công trình .

Uy tín tạo niềm tin – Chính xác là giá trị cốt lõi
Hỗ trợ tận nơi, làm việc linh hoạt, báo giá minh bạch, đúng quy định pháp luật.

Trụ sở
126/39 Chu Văn An - Phường 1 Bảo Lộc - Lâm Đồng
Văn phòng GD
Đo đạc nhà đất Lâm Đồng

Điện thoại: 0966578939
Email: dodacnhadatlamdong@gmail.com

Thời gian làm việc

Hỗ trợ trực tuyến 24/7
0966578939

  1. Thứ 2 - chủ nhật: 7h30 đến 17h